Bố mẹ chồng tôi biết chuyện thì vô cùng phẫn nộ, họ ép chồng phải ly hôn tôi. Chồng tôi từ miền Nam trở về, anh vừa sốc, vừa đau khổ. Tôi khóc rất nhiều, cầu xin anh tha thứ, xin anh cho tôi một cơ hội. Cuối cùng, vì thương tôi, thương con, anh đã quyết định không
Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. 1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc
8 cách hâm nóng khi chồng lạnh nhạt, thờ ơ. Vì vậy khi vợ cảm thấy chồng ít nói hơn, có thái độ lạnh nhạt, vô tâm, thờ ơ với vợ thì nên biết chồng đang ở vào giai đoạn nhàm chán vợ và cuộc hôn nhân đang bị đe dọa bên bờ vực thẳm. Người phụ nữ cần "hâm nóng
Người vợ số 2 thường tìm mọi cách để đem lại hạnh phúc cho chồng, dù phải hy sinh nhiều. Giúp đỡ chồng rất nhiều. Người chồng số 2 rất hòa nhã, dễ thương, ít đòi hỏi hoặc độc đoán, lại còn bị các bà chi phối vì qua nể nang.
Chồng đánh đòn Vợ; Chồng Thất Nghiệp, Vợ ăn đòn | Báo Dân Trí; Vợ Chồng Đánh Đòn Vợ Hư - Chồng Dùng Đòn Roi Để Phạt Tôi; Tìm Kiếm Chồng đánh đòn Vợ Bằng Roi Mây Trang 1 - Truyện 2U; Vợ Hư Bị Chồng đánh đòn - Payday Loanssqa; Chồng GIẤU VỢ CÓ QUỸ ĐEN Khiến Vợ
Hành vi của chồng bác có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP: "Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn. 1. Phạt tiền từ 1.000.000
Vợ tịch thu hết lương của chồng có bị phạt không? 1. Xử phạt hành chính. Theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP thì: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: - Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người
pY4o. Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng là hành vi của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc gây hậu quả… 1. Căn cứ pháp lý Tội “vi phạm chế độ một vợ, một chồng” được quy định tại điều 182 BLHS 2015, trước đó được quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1999 và tại Điều 144 Bộ luật hình sự năm 1985. Theo quy định tại điều 182 BLHS 2015, tội này được quy định cụ thể, chi tiết và dễ xác định hơn so với các điều luật cũ. Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm a Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm a Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó. Điều luật quy định hành vi vi phạm chế độ một vợ và hành vi vi phạm chế độ một chồng, nhưng không vì thế mà cho rằng nếu người phạm tội có hành vi vi phạm chế độ một vợ thì định tội là “vi phạm chế độ một vợ” hoặc vi phạm chế độ một chồng thì định tội là “vi phạm chế độ một chồng”, vì dù chỉ hành vi vi phạm chế độ một vợ đang có vợ mà kết hôn với người khác thì cũng là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng rồi. Chế độ một vợ, một chồng là một nguyên tắc của hôn nhân tiến bộ. 2. Cấu thành tội phạm của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Chủ thể của tội phạm Cũng như chủ thể của các tội phạm khác chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng cũng phải đảm bảo các yếu tố điều kiện cần và đủ như độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định trong Bộ luật hình sự. Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này cả khoản 1 và khoản 2 đều là tội phạm ít nghiêm trọng. Chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng tuy phải là chủ thể đặc biệt nhưng có một đặc điểm khác với chủ thể của các tội phạm khác ở chỗ người phạm tội phải là người đang có vợ hoặc có chồng hoặc một trong hai người phải là người đang có vợ hoặc đang có chồng. Hình minh họa. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Mặt khách quan của tội phạm – Người phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể có một trong các hành vi sau + Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. + Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn kể cả hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân. Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn; người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Hôn nhân thực tế là hôn nhân là hôn nhân có đủ điều kiện kết hôn về nội dung, chỉ vi phạm điều kiện về hình thức là không có đăng ký kết hôn. các điều kiện về nội dung là Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; việc chung sống với nhau được gia đình một hoặc cả hai bên chấp nhận; việc chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Hành vi sống chung như vợ chồng với người khác là hành vi của nam và nữ không có đăng ký kết hôn nhưng về sống chung với nhau như vợ chồng, có thể có tổ chức lễ cưới hoặc không tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; gia đình có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; họ sống với nhau như vợ chồng một cách công khai, mọi người xung quanh đều biết và cho rằng họ là vợ chồng. Sẽ không phải là sống chung với nhau như vợ chồng nếu như nam và nữ lén lút quan hệ tình dục với nhau theo quan niệm mà xã hội cho là “ngoại tình”. + Kết hôn với người khác trái pháp luật là hành vi lừa dối các cơ quan Nhà nước để đăng ký kết hôn hoặc tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán; người phạm tội có thể lừa dối đối với người mà mình kết hôn như nói dối là mình chưa có vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã có vợ hoặc có chồng nhưng đã ly hôn hoặc đã chết làm cho người mà mình định kết hôn tin mà đồng ý kết hôn. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp cả hai người nam và nữ đều biết nhau đã có vợ hoặc có chồng nhưng vẫn cố tình lừa dối các cơ quan Nhà nước để được kết hôn trái pháp luật. + Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ là trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng biết rõ người khác đã có chồng, đã có vợ nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này. Khi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đã có chồng hoặc có vợ, người phạm tội phải biết rõ người mà mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng là người đang có chồng hoặc có vợ. Nếu không biết rõ thì không phải hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Thông thường, trường hợp này người chưa có vợ, chưa có chồng nhất là người chưa có chồng bị người đang có vợ hoặc đang có chồng lừa dối nên mới kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này. – Hậu quả và mối quan hệ nhân quả Hậu quả của tội phạm này là hậu quả nghiêm trọng, nếu hậu quả gây ra chưa nghiêm trọng mà người phạm tội cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì cũng chưa cấu thành tội phạm này. Hậu quả ở đây được liệt kê trong điều 182 BLHS 2015 như sau Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn, Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.; Mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, thấy trước được hậu quả nghiêm trọng nhất định xảy ra hoặc có thể xảy ra, mong muốn cho hậu quả đó xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng người phạm tội thường bỏ mặc cho hậu quả nghiêm trọng xảy ra, miễn là được chung sống như vợ chồng với nhau. Khách thể của tội phạm Khách thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chính là chế độ một vợ, một chồng, là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình mà Luật hôn nhân và gia đình quy định; bảo vệ chế độ một vợ, một chồng khỏi bị xâm hại cũng chính là giữ vững nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình. 3. Hình phạt – Theo quy định của khoản 1 điều 182 BLHS 2015 thì người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Thuộc loại tội ít nghiêm trọng. – Khoản 2 quy định về tình tiết tăng nặng là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm + Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; + Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
Bạo lực gia đình đang ngày càng trở thành vấn nạn đáng lên án của xã hội; gây mất trật tự trị an ở địa phương. Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự; hôn nhân và gia đình ở địa phương cho thấy thực tế trong đời sống, bạo lực gia đình thường xuyên xảy ra nhưng do nhận thức và quan niệm của mỗi người nên chưa có những biện pháp xử phạt thích đáng. Trong khuôn khổ bài viết dưới đây, hãy cùng Luật sư X đi trả lời câu hỏi Chồng đánh vợ bị phạt như thế nào? Căn cứ pháp lý Bộ luật dân sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 Nghị định 167/2013/NĐ-CP Nội dung tư vấn Chồng đánh vợ có thể bị xử lí hành chính. Những quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình được quy định tại điều 49, Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Tuỳ vào mức độ vi phạm mà người chồng sẽ bị xử phạt như sau Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đìnhPhạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đây Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình; Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nận nhân điều trị chấn trhương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nận nhân từ chối; Biện pháp khắc phục hậu quả Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu. Như vậy; với hành vi chồng đánh vợ có thể bị xử phạt hành chính lên đến 2 triệu đồng. Ngoài việc bị phạt tiền với hành vì đó người chồng sẽ phải xin lỗi công khai khi người vợ có yêu cầu. Chồng đánh vợ có thể bị xử lí theo pháp luật dân sự. Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007 có quy định nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền như yêu cầu cơ quan, tổ chức; người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng; nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình; yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc. Đây là những quy định thực sự thiết thực; và cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của nạn nhân bạo lực gia đình; đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, những chủ thể yếu thế trong xã hội. Bên cạnh đó; điều 42 của Luật này cũng ghi nhận; người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình… nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Những quy định này này là hoàn toàn phù hợp với quy định của điều 604 Bộ luật dân sự 2015 “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gấy thiệt hại thì phải bồi thường“. Tuy nhiên; trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình; người gây thiệt hại phải bồi thường và người được bồi thường lại là những thành viên trong cùng một gia đình với những mối quan hệ bền chặt về mặt tình nghĩa cũng như là về mặt kinh tế; nên công tác tiến hành việc xử phạt sẽ ít nhiều gặp khó khăn, khúc mắc. Chồng đánh vợ có thể bị xử lí theo pháp luật hình sự. Không những thế, nếu hành vi đánh đập vợ của người chồng gây nên hậu quả nặng nề, chủ thể thực hiện hành vi có thể bị xử lí theo pháp luật hình sự về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình. Tội danh này được quy định tại Điều 185 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Cấu thành tội phạm của tội này được thể hiện qua bốn yếu tố như sau Chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình là chủ thể thể thường, là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên; trong trường hợp ngược đãi vợ hoặc chồng thì phải đủ độ tuổi kết hôn nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi. Khách thể của tội phạm. Khách thể của tội ngược đãi; hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình bao gồm hai đối tượng. Một là quan hệ gia là sức khỏe và tinh thần của người bị ngược đãi Mặt chủ quan của tội phạm Chủ thể thực hiện tội phạm với lõi cố ý trực tiếp. Người phạm tội đã biết trước được mối nguy hiểm trong hành vi ngược đãi của mình; nhận thức được rằng hành vi ngược đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng của mình sẽ trực tiếp gây tổn hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ như quan hệ gia đình; sức khỏe tinh thần của người bị ngược đãi nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Mặt khách quan của tội phạm Về hành vi khách quan Có hành vi ngược đãi hành hạ; thực hiện hành vi bạo lực gia đình; đánh đạp; giam hãm; cưỡng ép kết hôn…. Về hậu quả gười bị ngược đãi, hành hạ luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích Mức hình phạt Nếu hành vi đánh đập của người chồng đáp ứng đủ bốn tiêu chí trên; thì người chồng sẽ bị xử lí hình sự về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; với các mức hình phạt tương ứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi như sau Khung hình phạt thứ nhất phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với những trường hợp sau Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Khung hình phạt thứ hai Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm đối với những trường hợp sau Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo. Theo đó; nếu người chồng thực hiện hành vi đánh đạp vợ của mình trong khoảng thời gian mà cô ấy có thai; hoặc người vợ là người khuyết tật nặng; khuyết tật đặc biệt nặng; hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo; thì hình phạt mà anh ta phải chịu lên tới 05 năm tù giam. Mời bạn đọc xem thêm Hành vi bạo lực gia đình đối với vợ, chồng bị xử phạt ra sao? Thông tin liên hệ Luật sư X Trên đây là tư vấn của Luật sư X về vấn đề “Chồng đánh vợ bị phạt như thế nào?” Chúng tôi hi vọng rằng bạn có thể vận dụng các kiến thức trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Để biết thêm thông tin chi tiết về dịch vụ của Luật Sư X, hãy liên hệ 0833102102 Câu hỏi thường gặp Bạo lực gia đình là gì?Bạo lực gia đình là một hành vi của bạo lực xã hội; được hiểu cố ý làm tổn thương hoặc gây tổn thương đến các thành viên trong gia đình ví dụ như đánh đập; dam hãm; cưỡng ép;… Bạo lực gia đình có thể tồn tại dưới những dạng nào?Bạo lực gia đình tồn tại ở các hình thức sau– Bạo về thể chất;– Bạo lực về tinh thần;– Bạo lực về kinh tế;– Bạo lực về tình dục…. Hậu quả của việc bạo lực gia đình?Việc thực hiện hành vi bạo lực gia đình sẽ dẫn đến những hậu quả sau– Gây tổn hại đến tinh thần, sức khỏe tính mạng của thành viên trong gia đình;– Tác động tiêu cực đến gia đình nói riêng đến nền kinh tế; xã hội nói chung; gây mất trật tự xã hội; đi ngược lại với quy định pháp luật.
Em kết hôn 5 năm mỗi lần cãi nhau chồng em đều đánh em hôm qua thì đánh em chảy máu rất nhiều như vậy em có thể kiện chồng em tội gì không? Căn cứ pháp lý Luật hình sự 2015 Nghị định 167/2013/ NĐ-CP quy định về việc xử phạt hành vi xâm hại sức khoẻ thành viên trong gia đình Căn cứ theo Điều 49, Nghị định 167/2013/ NĐ-CP quy định về việc xử phạt hành vi xâm hại sức khoẻ thành viên trong gia đình cụ thể ở đây là hành vi đánh vợ của chồng như sau Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình “1. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình. 2. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong những hành vi sau đây a Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình; b Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối. 3. Biện pháp khắc phục hậu quả Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.” Trong trường hợp, người chồng có hành vi đánh đập, mắng chửi gây thương tích cho người vợ mà không rõ hành vi đó sử dụng công cụ, phương tiện nào có thể chia ra 2 trường hợp 1. Nếu chồng bạn chỉ có hành vi đánh đơn thuần như tát, đấm, đá,… gây thương tích mà không sử dụng công cụ, phương tiện thì sẽ bị phạt tiền từ đồng đến đồng. 2. Còn nếu chồng bạn sử dụng gậy gộc, dao, hay những vật dụng khác dẫn đến thương tích sẽ bị phạt từ đồng đến đồng. Ngoài ra, người chồng còn phải xin lỗi công khai nếu vợ có yêu cầu. Bên cạnh đó, trong trường hợp người vợ đề nghị xử lý hành vi của người chồng và đi giám định thương tích thì người chồng có thể bị xử lý hình sự. Về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 nếu có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp luật định, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Hay là Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình theo Điều 185 Bộ luật hình sự Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm – Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần; – Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Xem thêm Hồ sơ sang tên sổ đỏ khi trúng đấu giá Hai bên đánh nhau cùng gây thương tích trên 11% cho nhau thì xử lý thế nào? Chồng bị hôn mê nhiều ngày vợ có được đại diện cho chồng không? Quy định chung về xóa án tích Trộm cắp tài sản bị phát hiện thì gia đình đã trả lại tiền có bị đi tù không?
Để đảm bảo hôn nhân một vợ một chồng – một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được thực thi, pháp luật đặt ra những quy định xử lý đối với những hành vi vi phạm nguyên tắc này. Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo quy định pháp luật như thế nào? Luật sư 247 sẽ giải đáp thắc mắc của bạn tại bài viết dưới đây Căn cứ pháp lý Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng Theo quy định tại điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có quy định cụ thể Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năma Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năma Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Điều 182 Bộ luật hình sự hiện nay được hiểu như sau Vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định là hành vi của “Người đang có vợ, có chồng mà kết hồn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sổng như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ”. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng xâm phạm một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình là nguyên tắc một vợ, một chồng. Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm chế độ một vợ một chồng Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên bên ngoài của tội phạm; bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện phạm tội…. Hành vi khách quan được quy định cụ thể trong điều luật của Bộ luật hình sự; và nếu bất kỳ người nào thực hiện hành vi đó dẫn đến hậu quả bằng phương tiện nào đó; thì có thể xem là tội phạm. Có thể thấy hành vi khách quan trong tội vi phạm chế độ một vợ, một chống gồm những hành vi sau Người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; Người chưa có vợ, chưa có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. Hậu quả của hành vi này là làm cho quan quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát. Mặt chủ quan của tội phạm Mặt chủ quan là biểu hiện về mặt tâm lý bên trong người phạm tội; bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Người phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng sẽ có lỗi cố ý với mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Mặt chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng là chủ thể thường. Theo đó người từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nghĩa là không mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của bản thân theo quy định của Điều 21 Bộ luật hình sự 2015 sẽ là chủ thể của tội này. Mặt khách thể của tội phạm Khách thể là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có khách thể là chế độ hôn nhân và gia đình trong xã hội. Theo đó, cá nhân có hành vi ngoại tình đã xâm phạm vào chế độ hôn nhân và gia đình đang được nhà nước bảo vệ nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Hình phạt tội vi phạm chế độ một vợ một chồng Tùy vào mức độ vi phạm mà người có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng của Bộ luật hình sự. Xử phạt vi phạm hành chính Theo khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP, người vi phạm sẽ bị phạt tiền từ đồng đến đối với hành vi + Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; + Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; + Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; + Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; + Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; + Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Truy cứu trách nhiệm hình sự Theo khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự, người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm + Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; + Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Theo khoản 2 Điều 182 Bộ luật này, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm + Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát + Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó. Như vậy, hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng gây ra những hậu quả quy tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 thì phải chịu hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Nguyên tắc một vợ một chồng là nguyên tắc bình đẳng, tiến bộ trong hôn nhân, được Nhà nước bảo hộ và tạo điều kiện thực hiện. Vì vậy, với mỗi hành vi vi phạm đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng, tùy từng mức độ sẽ phải chịu chế tài tương ứng. Mời bạn xem thêm bài viết Quy định nam nữ sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hônVợ chồng có được thuận tình ly hôn khi con dưới 1 tuổi không?Chế độ hôn nhân một vợ một chồng là gì? Trên đây là tư vấn của Luật sư 247 về nội dung vấn đề “Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo quy định pháp luật” Chúng tôi hi vọng rằng bạn có thể vận dụng các kiến thức trên để sử dụng trong công việc; cuộc sống. Nếu có thắc mắc và cần nhận thêm sự tư vấn, giúp đỡ hãy liên hệ Câu hỏi thường gặp Tảo hôn bị phạt như thế nào?Tảo hôn là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu nhẹ thì bị xử lý hành chính từ đồng đến đồng; từ đồng đến đồng. Nếu đã bị xử lý vi phạm hành chính; nhưng vẫn tiếp tục vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự; phạt từ đồng đến đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm Nguyên tắc một vợ một chồng là gì?Nguyên tắc một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản hàng đầu của chế độ hôn nhân và gia đình. Theo đó, có thể hiểu rằng nguyên tắc này quy định cá nhân đã kết hôn chỉ được có một vợ hoặc một chồng và trong thời kì hôn nhân không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.
Chồng đánh vợ là hiện tượng không phải hiếm thấy ở trong mỗi gia đình hiện nay. Vấn đề bạo lực gia đình bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Chồng đánh vợ là hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vi đó vừa vi phạm pháp luật vừa vi phạm đạo đức. Để có thể biết thêm được những thông tin hay hiểu hơn về pháp luật quy định như thế nào, xử phạt ra sao và thủ tục khởi kiện về hành vi chồng đánh vợ hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline để được tư vấn nhanh chóng, kịp thời. Chồng đánh vợ xử phạt thế nào? Gọi tư vấn ngay Chồng đánh vợ có vi phạm pháp luật không?Chồng đánh vợ bị xử lý hành chính thế nào?Chồng đánh vợ bị xử lý hình sự thế nào?Khởi kiện khi chồng đánh vợ được không?Trình tự khởi kiện hành vi chồng đánh vợ Chồng đánh vợ có vi phạm pháp luật không? Chị Thúy ở Nghệ An có câu hỏi về hành vi chồng đánh vợ sau đây Thưa luật sư, tôi là Thúy năm nay tôi 30 tuổi, hiện tại tôi đã có chồng và có 1 người con trai 3 tuổi, gia đình tôi cũng khá khó khăn về kinh tế. Trước khi lấy nhau chồng tôi là 1 người điềm đạm, lịch sự biết trước biết sau. Nhưng sau khi lấy tôi về và nhất là từ khi tôi sinh con thì chồng tôi suốt ngày say xỉn, làm việc không lo làm chỉ đi nhậu, đã thế khi nào về cũng chửi tôi, hôm thì chửi, hôm thì đánh. Hôm ngày 3/4/2022 sau khi anh đi làm đến chập tối tôi có gọi điện thoại hỏi anh về ăn cơm thì anh chửi tôi và bảo tôi quản chồng. Đến khoảng 11 giờ đêm sau khi anh đi nhậu về thì anh ấy gọi tôi dậy và đánh tôi. Lúc đó tôi và con nhỏ đang ngủ và con nhỏ dậy và khóc. Do nhà mẹ đẻ tôi cũng khá gần nhà tôi nên tôi bế cả con tôi về nhà mẹ. Biết là anh hay bị áp lực về công việc cũng như gia đình nên tôi cũng cố nhẫn nhịn từ lâu nay vì tôi biết hành vi chồng đánh vợ cũng xảy ra trong gia đình, nhưng nay tôi không nhịn được nữa. Vậy, luật sư có thể cho tôi hỏi là chồng tôi đánh tôi như thế có vi phạm pháp luật không. Chồng đánh vợ bị xử lý như thế nào? Tôi xin cảm ơn luật sư! >> Chồng đánh vợ có vi phạm pháp luật không? Liên hệ qua hotline Trả lời Thưa chị Thúy, sau khi luật sư chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu về tài liệu thì chúng tôi xin trả lời về vấn đề của chị như sau – Thứ nhất, về hành vi của chồng chị Chồng chị đã có hành vi thường xuyên đánh đập và chửi mắng xúc phạm chị. Anh ấy đã thực hiện hành vi đó nhiều lần. Đây có thể coi là hành vi bạo lực gia đình. Theo căn cứ tại điểm a, điểm b khoản 1 điều 2 luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 quy định Hành vi bạo lực gia đình bao gồm + Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có những hành vi cố ý khác nhằm xâm phạm đến sức khỏe tính mạng; + Lăng mạ hoặc có những hành vi cố ý xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm. Như vậy, căn cứ vào các quy định trên cho thấy người chồng của chị đã vi phạm theo điểm a, điểm b khoản 1 điều 2 luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 đó là có hành vi đánh đập, xúc phạm chửi bới nhân phẩm danh dự của chị và xâm phạm đến sức khỏe của chị. – Thứ hai, Trường hợp này chị nạn nhân có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức hay người có thẩm quyền can thiệp giải quyết, căn cứ theo điều 5 của luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 cụ thể về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân chị bạo lực gia đình Nạn nhân của bạo lực gia đình sẽ có những quyền hạn sau đây + Nạn nhân có quyền yêu cầu những cơ quan, tổ chức, những người có thẩm quyền bảo vệ cho sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm quyền và những lợi ích hợp pháp khác của mình; + Nạn nhân có quyền yêu cầu những cơ quan, những người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp, ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của luật phòng chống bạo lực gia đình 2007; + Nạn nhân được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn pháp lý, pháp luật; + Nạn nhân sẽ được bố trí nơi để tạm lánh, nạn nhân sẽ được giữ bí mật về nơi tạm lánh đó và những thông tin khác theo quy định của luật này; + Nạn nhân sẽ có các quyền khác theo quy định của pháp luật. Nạn nhân trong bạo lực gia đình sẽ có nghĩa vụ cung cấp các thông tin có liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu. – Thứ 3 chồng của chị sẽ bị xử lý như sau Theo điều 49 nghị định 167/22013 NĐ – CP quy định về xử vi phạm phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình. Tùy thuộc vào mức độ mà chồng chị vi phạm sẽ có các hình thức xử phạt như sau – Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến triệu đồng với hành vi đánh đập mà gây thương tích cho các thành viên trong gia đình. – Phạt tiền từ triệu đồng – 2 triệu đồng đối với một trong các hành vi như sau + Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật khác gây thương tích cho thành viên trong gia đình; + Người vi phạm không đưa nạn nhân đi cấp cứu khi nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chịu chăm sóc nạn nhân trong khoảng thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình gây ra, trừ trường hợp nạn nhân từ chối việc đưa đi cấp cứu hoặc chăm sóc ấy. + Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phải xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu khi vi phạm bị xử phạt theo những lỗi nêu trên. Như vậy, chồng chị sẽ bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm của anh ấy. Ngoài bị xử lý vi phạm hành chính chồng của chị có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 cụ thể như sau “Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm a Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên; b Dùng axit sunfuric H2SO4 hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; c Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; ….” Như vậy, Trường hợp mà chồng đánh vợ nếu gây ra thương tích cho nạn nhân cho người vợ Với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các tình tiết tăng nặng được quy định ở khoản 1 điều 134 bộ luật Hình sự 2015 thì người chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. khung hình phạt cao nhất có thể lên tới 03 năm tù giam. Trường hợp này chị có thể lên cơ quan công an cấp huyện để tố cáo hành vi bạo lực gia đình nếu chị bị thương tích hoặc cho rằng người chồng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Chị Vinh ở Gia Lai có câu hỏi về hành vi chồng đánh vợ Thưa luật sư, tôi có vấn đề sau đây cần luật sư giải đáp. Tôi là Vinh năm nay tôi đã 53 tuổi, có con gái tôi tên là Vy đã lấy chồng được 3 năm con rể tên là Bình. Do áp lực công việc cũng như vấn đề tài chính của gia đình nên Bình thường xuyên nhậu nhẹt thâu đêm đến sáng. Vì lo lắng cho sức khỏe của Bình thì con gái tôi là Vy có thường xuyên nhắc nhở. Bình thường thì Con rể tôi sẽ nghe lời khuyên của Vy nhưng hôm 7/5/2022 trong cơn say thì Bình đã cầm 1 cái gậy và đánh con gái tôi. Tuy không gây thương tích nặng nhưng tâm lý con gái tôi rất hoảng loạn. Hiện tại thì con gái tôi đang sống ở nhà tôi và chả dám về nhà vì tâm lý đang bị ảnh hưởng. Hôm qua tôi mới đưa con gái tôi đi gặp bác sĩ tâm lý nhưng tình trạng của Vy cũng không tiến triển được bao nhiêu. Nhìn con gái tôi như thế tôi rất buồn và lại bực mình con rể mình hơn. Vậy luật sư cho tôi hỏi hành vi Chồng đánh vợ của Bình như vậy, có bị xử phạt hành chính không. Tôi xin cảm ơn! Mong luật sư giải đáp ngay cho tôi. >> Chồng đánh vợ bị phạt tiền bao nhiêu? Gọi ngay Trả lời Chào chị Vinh! Qua quá trình tìm hiểu về vụ việc của chị và trải qua quá trình tìm tài liệu cũng như bằng kiến thức chúng tôi có, đội ngũ luật sư chúng tôi xin giải quyết vấn đề chồng đánh vợ như sau – Thứ nhất, hành vi của anh Bình Anh Bình sau khi say rượu đã về nhà và đánh đập chị Vy, Mặc dù không gây tổn thương nhiều về cơ thể nhưng tâm lý của Vy đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Theo quy định tại điểm a, khoản 1 điều 2 luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 quy định về hành vi bạo lực gia đình như sau Hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có hành vi cố ý xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng. Anh Bình đã cầm gậy gỗ và đánh chị Vy cho thấy hành vi anh Bình là đánh đập gây tổn hại đến sức khỏe của chị Vy. – Chị Vy, nạn nhân có quyền và nghĩa vụ sau đây + Nạn nhân của bạo lực gia đình chị Vy sẽ có những quyền hạn sau đây Nạn nhân có quyền yêu cầu những cơ quan, tổ chức, những người có thẩm quyền bảo vệ cho sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm quyền và những lợi ích hợp pháp khác của mình; Nạn nhân có quyền yêu cầu những cơ quan, những người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp, ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của luật phòng chống bạo lực gia đình 2007; Nạn nhân được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn pháp lý, pháp luật; Nạn nhân sẽ được bố trí nơi để tạm lánh, nạn nhân sẽ được giữ bí mật về nơi tạm lánh đó và những thông tin khác theo quy định của luật này; Nạn nhân sẽ có các quyền khác theo quy định của pháp luật. + Nạn nhân trong bạo lực gia đình chị Vy sẽ có những nghĩa vụ sau đây Cung cấp các thông tin có liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu. – Thứ 3 anh Bình, người gây ra hành vi chồng đánh vợ sẽ bị xử lý như sau Theo điều 49 nghị định 167/22013 NĐ – CP quy định về xử vi phạm phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình. Tùy thuộc vào mức độ mà chồng chị vi phạm sẽ có các hình thức xử phạt như sau + Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến triệu đồng với hành vi đánh đập mà gây thương tích cho các thành viên trong gia đình. + Phạt tiền từ triệu đồng – 2 triệu đồng đối với một trong các hành vi như sau Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật khác gây thương tích cho thành viên trong gia đình; Người vi phạm không đưa nạn nhân đi cấp cứu khi nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chịu chăm sóc nạn nhân trong khoảng thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình gây ra, trừ trường hợp nạn nhân từ chối việc đưa đi cấp cứu hoặc chăm sóc ấy. Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phải xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu khi vi phạm bị xử phạt theo những lỗi nêu trên. Trường hợp này anh Bình sẽ bị xử lý hành chính đó là – 2 triệu đồng vì đã có hành vi dùng công cụ để đánh chị Vy. Như vậy, chồng chị sẽ bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm của anh Bình và buộc anh Bình phải xin lỗi công khai chị Vy nếu chị Vy có yêu cầu. Ngoài bị xử lý vi phạm hành chính thì anh Bình có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 nếu như có những tình tiết để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự. Chồng đánh vợ bị xử lý hình sự thế nào? Anh Hòa Nghệ An có câu hỏi như sau Thưa luật sư, Tôi có thắc mắc sau cần luật sư giải đáp về hành vi chồng đánh vợ. Tôi là Hòa có vợ và 2 con nhỏ. Tôi là 1 người cũng không ham rượu bia, cũng không chơi bời gì. Ngày 11/4/2022 tôi có đi liên hoan cùng đồng nghiệp vì mới được lãnh lương. Khi đang uống rượu thì bị đồng nghiệp khiêu khích về vấn đề của vợ tôi không xinh, khi tôi về nhà thì vợ tôi đã ngủ. Do bực tức nên tôi đã gọi vợ dậy và dùng chiếc dậy mà tôi hay đánh bóng chày ở góc nhà và đánh vợ 1 cái vào chân. Vợ tôi ngã xuống và tôi đã đưa vợ tôi đi cấp cứu. Xuống bệnh viện thì Bác sĩ có chẩn đoán là vợ tôi bị bong gân không nghiêm trọng lắm. Do mẹ của vợ tôi trình báo với công an về hành vi chồng đánh vợ nên tôi đã bị cơ quan công an mời lên làm việc với hành vi chồng đánh vợ của tôi, sau 3 ngày thì tôi được thả về vì tôi nghe nói là vợ tôi đã làm đơn yêu cầu không truy cứu nữa vì vợ tôi cho rằng hành vi chồng đánh vợ là chuyện sẽ xảy ra trong gia đình . Vậy luật sư cho tôi hỏi hành vi của tôi có bị khởi tố hình sự không. Và tội của tôi có phải khi rút đơn là không vi phạm nữa không. >> Chồng đánh vợ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Gọi ngay Trả lời Thưa anh Hòa, Có phải anh thắc mắc về hành vi chồng đánh vợ phải không? Chúng tôi xin giải quyết vấn đề cho anh Hòa như sau Hành vi của anh là hành vi chồng đánh vợ khi đó anh đã dùng hung khí nguy hiểm đó là chiếc gậy đánh bóng chày và đánh vợ mình. Hậu quả làm cho vợ của anh phải đi cấp cứu tuy nhiên mức độ tổn thương cơ thể là không cao. – Lỗi lỗi của anh là lỗi cố ý trực tiếp. Tuy anh đã uống rượu nhưng anh vẫn làm chủ được hành vi. Hành vi uống rượu còn được coi là hành vi tăng nặng cho tội này. Anh Hòa có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và năng lực hành vi dân sự Hành vi của anh Hòa đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác cụ thể đây là vợ của anh. Bằng những phân tích trên có thể thấy anh Hòa đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định ở điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Căn cứ theo khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 thì hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong những trường hợp dưới đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm “a, Hành vi dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hiểm cho 2 người trở lên; b, Dùng axit sunfuric hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; c, Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; d, Phạm tội 02 lần trở lên; đ, Phạm tội đối với 02 người trở lên; e, Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết đang mang thai, người già yếu, ốm đau hoặc không có khả năng tự vệ; g, Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình; h, Có tổ chức i, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; k, Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc; l, Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê; m, Có tính chất côn đồ; n, Tái phạm nguy hiểm; o, Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.” Như vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 điều 134 hành vi dùng gậy đánh vợ của anh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù tổn hại về sức khỏe và cơ thể của vợ không quá 11% nhưng anh vẫn có thể bị xử phạt tù cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Nếu như vợ anh rút đơn thì anh có bị khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích không? Theo điều 155 bộ luật tố tụng hình sự Chỉ khởi tố vụ án hình sự về những tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc có yêu cầu khởi tố từ người đại diện của bị hại của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Trong Trường hợp người bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vì cho rằng chồng đánh vợ là 1 chuyện không thể thiếu trong gia đình thì vụ án được đình chỉ, trừ trường hợp có các căn cứ để xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái ý muốn của họ vì họ bị ép buộc, cưỡng bức thì mặc dù người đã yêu cầu khởi tố có rút yêu cầu khởi tố , thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, và Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án bình thường. Trường hợp bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu khởi tố lại, trừ trường hợp rút yêu cầu khởi tố do bị ép buộc, cưỡng bức. Như vậy với trường hợp của anh nếu vợ anh không khởi tố hay vợ anh rút yêu cầu khởi tố thì anh không phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi vi phạm của anh là hành vi khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Vì 1 gia đình hạnh phúc thì hành vi chồng đánh vợ nên bài trừ ra khỏi xã hội. Khởi kiện khi chồng đánh vợ được không? Anh Đức Tùng ở Hưng yên có câu hỏi liên quan đến hành vi chồng đánh vợ như sau Thưa luật sư có, tôi là Tùng năm nay 55 tuổi. Tôi có 1 đứa con gái và 1 đứa con trai. Con gái lớn của tôi lấy chồng năm 2013 đến nay được 9 năm mà vẫn không có con. Gia đình nhà chồng thì rất truyền thống họ quan niệm là do con gái tôi không biết sinh. Chồng của con gái tôi là Luật nó cũng rất thương vợ và hết lòng bênh vực vợ. Hai vợ chồng cũng đã dùng biện pháp hỗ trợ sinh sản nhưng mãi vẫn không thể có con. Ngày hôm qua 12/5/2022 thì gia đình Luật có tổ chức đám giỗ cho Ông của Luật, vì áp lực về mọi việc cũng như những lời chỉ trích đến từ bố mẹ Luật cũng như đến từ gia đình bên nội của Luật nên Luật rất bực tức. Tối đến khi khách về hết luật đã lấy gậy và đánh liên tục vào bụng, vào chân và tay của con gái tôi, làm cho con gái tôi bị gãy chân và tay. Sau khi đánh vợ xong thì Luật đã đưa con gái tôi đến bệnh viện đa khoa cấp huyện nơi gần nhà Luật. Qua kết luận thì bác sĩ bảo con gái tôi bị tổn thương cơ thể lên tớ 31% và chiếc chân bị gãy đó rất khó có thể phục hồi và tay thì bị liệt. Luật đang ở bệnh viện để chăm sóc vợ về hành vi chồng đánh vợ của mình Vậy về hành vi chồng đánh vợ và có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích. Vậy luật sư cho tôi hỏi trường hợp này gia đình tôi có khởi kiện về hành vi chồng đánh vợ được không? >> Có thể khởi kiện chồng đánh vợ không? Gọi ngay Trả lời Thưa anh Tùng, sau khi tìm hiểu kỹ về vụ việc của bạn chúng tôi xin đưa ra phương án giải quyết sau đây. Hành vi của Luật là hành vi chồng đánh vợ nhưng có dấu hiệu của lỗi cố ý gây thương tích. Căn cứ tại Điều 143 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 quy định như sau – Căn cứ khởi tố vụ án hình sự “Chỉ được phép khởi tố vụ án khi đã xác định là có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ sau đây + Thông qua tố giác của cá nhân; + Thông qua những tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; + Theo tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; + Bởi kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; + Khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; + Khi người phạm tội tự thú. Như vậy trong trường hợp của con rể của anh đã có dấu hiệu của tội phạm Chồng đánh vợ và đó là tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Hành vi của Luật là dùng gậy gỗ đánh liên tiếp vào vùng bụng, cùng tay và chân của nạn nhân người vợ gây hậu quả là người vợ bị gãy tay và chân tỷ lệ tổn thương cơ thể lên tới 31%. Hành vi của Luật là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội Luật đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi tuy biết rằng hành vi chồng đánh vợ hay hành vi mà mình gây ra có thể gây tổn thương đến sức khỏe cho vợ mà Luật vẫn làm. Luật đã có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Hành vi của Luật đã xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, tính mạng của người khác. Như vậy hành vi của luật đã thỏa mãn với tội phạm được quy định tại khoản 3 điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 gây tổn hại đến sức khỏe của người khác của vợ 31%. Với tội này thì sẽ bị xử phạt từ 04 năm đến 07 năm tù. Do Luật đã có hành vi phạm tội và anh Tùng có thể tố giác người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại điểm a, khoản 1 điều 134 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 2 luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 thì hành vi chồng đánh vợ là hành vi bạo lực gia đình, theo khoản 5 điều 7 luật phòng chống bạo lực gia đình thì hành vi chồng đánh vợ thì người vợ sẽ có quyền hạn sau + Nạn nhân có quyền yêu cầu những cơ quan, tổ chức, những người có thẩm quyền bảo vệ cho sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm quyền và những lợi ích hợp pháp khác của mình; + Nạn nhân có quyền yêu cầu những cơ quan, những người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp, ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của luật phòng chống bạo lực gia đình 2007. Vì vậy con gái của anh có thể khởi kiện về vụ án chồng đánh vợ vì đây là quyền của nạn nhân, là quyền của con gái ông Tùng có thể khởi kiện Luật về hành vi cố ý gây thương tích mà chúng tôi đã nêu trên. Theo lời khuyên của luật sư chúng tôi thì hành vi chồng đánh vợ sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc của gia đình. Để gia đình hạnh phúc thì hành vi chồng đánh vợ phải bài trừ đi. Hành vi chồng đánh vợ không những vi phạm pháp luật mà còn phá vỡ hạnh phúc gia đình. Tư vấn thủ tục khởi kiện chống đánh vợ – Gọi ngay Trình tự khởi kiện hành vi chồng đánh vợ Chị Huyền Tây Ninh có câu hỏi Thưa luật sư tôi có câu hỏi về hành vi chồng đánh vợ mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi lấy chồng được 2 năm hiện tại cũng chưa có con. Chồng tôi làm việc ở văn phòng sáng đi sớm và tối về muộn. Ngày 20/4/2022 do nghi ngờ chồng tôi ngoại tình nên tôi đã đi theo và phát hiện cứ khoảng 5 giờ chiều sau khi làm xong thì chồng tôi thường đi với 1 cô gái vào khu nhà trọ. Do nghi ngờ nên tối ngày 20/4/2022 tôi đợi chồng tôi về muộn và có hỏi chồng tôi về vấn đề đó. Sau khi hỏi thì chồng tôi chửi tôi bảo tôi không biết sinh thì anh ấy đi tìm người khác. Sau khi chửi xong thì chồng tôi có đi ra ngoài và kiếm đâu về 1 cái ống tuýp bằng sắt và đánh vào tay tôi làm tôi bị gãy tay. Chồng tôi bảo để yên thì còn được chứ nói ra linh tinh sẽ biết tay. Ngay sau đó tôi đi đến bệnh viện để cấp cứu. Vậy, luật sư cho tôi hỏi về hành vi chồng đánh vợ như sau Chồng đánh vợ như thế có phải là hành vi bạo lực gia đình không. Nếu tôi khởi kiện về hành vi đó thì phải chịu trách nhiệm hình sự không? Trình tự khởi kiện đối với vụ án chồng đánh vợ là như thế nào? >> Thủ tục khởi kiện về hành vi chồng đánh vợ xin liên hệ với chúng tôi qua hotline Trả lời Sau khi nghiên cứu về vấn đề của bạn, luật sư chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu các hồ sơ và tài liệu liên quan để giải quyết vấn hành vi chồng đánh vợ sẽ bị xử lý như sau – Thứ nhất, hành vi chồng đánh vợ có vi phạm quy định về bạo lực gia đình không Đây có thể coi là hành vi bạo lực gia đình. Theo căn cứ tại điểm a, điểm b khoản 1 điều 2 luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 quy định Hành vi bạo lực gia đình bao gồm + Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có những hành vi cố ý khác nhằm xâm phạm đến sức khỏe tính mạng; + Lăng mạ hoặc có những hành vi cố ý xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm. Như vậy, căn cứ vào các quy định trên cho thấy người chồng của bạn đã vi phạm theo điểm a, điểm b khoản 1 điều 2 luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 đó là có hành vi đánh đập, xúc phạm chửi bới nhân phẩm danh dự của chị và xâm phạm đến sức khỏe của bạn. Về hành vi chồng đánh vợ là hành vi trái pháp luật, trái đạo đức. – Thứ hai, Trường hợp này bạn nạn nhân có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức hay người có thẩm quyền can thiệp giải quyết, căn cứ theo điều 5 của luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 cụ thể về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạn bạo lực gia đình Nạn nhân của bạo lực gia đình sẽ có những quyền hạn sau đây + Nạn nhân có quyền yêu cầu những cơ quan, tổ chức, những người có thẩm quyền bảo vệ cho sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm quyền và những lợi ích hợp pháp khác của mình; + Nạn nhân có quyền yêu cầu những cơ quan, những người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp, ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của luật phòng chống bạo lực gia đình 2007; + Nạn nhân được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn pháp lý, pháp luật; + Nạn nhân sẽ được bố trí nơi để tạm lánh, nạn nhân sẽ được giữ bí mật về nơi tạm lánh đó và những thông tin khác theo quy định của luật này; + Nạn nhân sẽ có các quyền khác theo quy định của pháp luật. Nạn nhân trong bạo lực gia đình sẽ có những nghĩa vụ sau đây + Cung cấp các thông tin có liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu. – Thứ hai, Hành vi của chồng bạn là đánh đập bạn và đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định ở điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Hành vi chồng đánh vợ và gây thương tích thì cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Căn cứ theo khoản điểm 1 điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong những trường hợp dưới đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm “a, Hành vi dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hiểm cho 2 người trở lên; b, Dùng axit sunfuric hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; c, Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; d, Phạm tội 02 lần trở lên; đ, Phạm tội đối với 02 người trở lên; e, Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết đang mang thai, người già yếu, ốm đau hoặc không có khả năng tự vệ; g, Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình; h, Có tổ chức i, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; k, Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc; l, Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê; m, Có tính chất côn đồ; n, Tái phạm nguy hiểm; o, Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.” Như vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 điều 134 hành vi dùng gậy đánh vợ của chồng chị thì chồng của chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi chồng đánh vợ mà gây thương tích, mặc dù tổn hại về sức khỏe và cơ thể của vợ không qua 11% nhưng anh vẫn có thể bị xử phạt tù cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Tuy nhiên theo quy định tại điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về những trường hợp có thể khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Trường hợp này nếu chị không khởi tố thì chồng chị không phải chịu trách nhiệm hình sự. – Thứ ba, Trình tự và thủ tục khởi kiện về hành vi chồng đánh vợ như sau Bước 1 Nộp đơn tố cáo kèm theo đơn tố cáo đó là những bằng chứng, những chứng cứ chứng minh cho hành vi vi phạm này cho một trong các cơ quan có thẩm quyền sau + Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; + Các cơ quan hoặc tổ chức khác mà có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. + Sau khi tiếp nhận đơn tố giác thì cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh có hay không dấu hiệu tội phạm được tố giác để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Bước 2 Điều tra vụ án hình sự Về thẩm quyền điều tra Một trong 3 cơ quan điều tra sau đây có thẩm quyền tiến hành điều tra hành vi chồng đánh vợ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự không + Một là Cơ quan điều tra của Công an nhân dân + Hai là, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân + Ba là, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương. Bước 3 Viện kiểm sát sẽ căn cứ vào hồ sơ vụ án chồng đánh vợ và bản kết luận điều tra của cơ quan điều ra rồi đưa ra một trong ba quyết định sau + Ra quyết định truy tố bị can trước Tòa án + Ra quyết định sẽ trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung nếu chưa đầy đủ thông tin + Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can. Bước 4 Ra quyết định xét xử sơ thẩm, phúc thẩm bởi Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào Điều 268 đối với thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cấp tương đương căn cứ Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh, tòa án cấp cao hoặc các tòa án có thẩm quyền tương đương. Bước 5 Sau giai đoạn xét xử, người phạm tội thi hành bản án và quyết định của tòa án. Như vậy, Hành vi chồng đánh vợ đã được đội ngũ luật sư chung tôi giải đáp một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất. Nếu quý anh chị còn những thắc mắc gì chưa hiểu hoặc anh chị còn những vấn đề gì mới cần chúng tôi giải quyết hãy đặt câu hỏi cho chúng tôi tại đây. Chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc của bạn ngay khi bạn có vấn đề về chồng đánh vợ. Hành vi đó là hành vi bạo lực gia đình nên nhiều cá nhân không tiện để trình bày công khai. Nếu thế, hãy liên hệ ngay đến tổng đài tư vấn pháp luật của chúng tôi qua hotline thì bí mật sẽ được giữ kín hơn.
chồng phạt đòn vợ